Khu di tích khảo cổ Óc Eo, Ba Thê – Dấu tích của nền văn minh từng phát triển rực rỡ cách đây hàng ngàn năm
Không chỉ là một địa danh khảo cổ nổi tiếng của Việt Nam, khu di tích khảo cổ Óc Eo – Ba Thê còn được xem là dấu tích quan trọng của một nền văn minh từng phát triển rực rỡ ở Đông Nam Á cách đây hàng nghìn năm.
Khu di tích khảo cổ Óc Eo – Ba Thê nằm ở xã Óc Eo và xã Mỹ Thuận của tỉnh An Giang. Đây là quần thể di tích khảo cổ rộng lớn, gắn với nền văn hóa Óc Eo và vương quốc Phù Nam cổ đại tồn tại từ khoảng thế kỷ I đến thế kỷ VII. Nơi đây được các nhà khoa học đánh giá là một trong những trung tâm kinh tế, văn hóa và giao thương quan trọng của khu vực Đông Nam Á thời cổ đại.
Tên gọi “Óc Eo” bắt nguồn từ địa danh Gò Óc Eo (nay thuộc xã Óc Eo, tỉnh An Giang), địa điểm đầu tiên được khai quật. Cuộc khai quật khảo cổ học đầu tiên được tổ chức tại Óc Eo do nhà khảo cổ học người Pháp Louis Malleret thực hiện bắt đầu vào ngày 10 tháng 02 năm 1944 đã đưa sự chú ý của cộng đồng khoa học quốc tế thời bấy giờ vào những khám phá mới về một quốc gia cổ đại từng tồn tại ở miền Nam Việt Nam mà trước đó chỉ được mô tả một cách không rõ nét trong các nguồn sử liệu cổ Trung Hoa. Trước đó, từ năm 1937 đến năm 1944, Louis Malleret cùng với các cộng sự của mình đã tiến hành thám hiểm, điền dã trên toàn bộ vùng đồng bằng Nam Bộ, phát hiện 136 địa điểm khảo cổ ở khu vực miền tây sông Hậu, 167 địa điểm khảo cổ ở khu vực nằm giữa sông Tiền, sông Hậu và vùng Đông Nam Bộ, hơn 33 địa điểm trên cánh đồng Óc Eo và các vùng đồng bằng phụ cận.
Sau khi kết thúc các đợt điều tra khảo sát, nhận thấy được vị trí và tính chất quan trọng của Khu di tích Óc Eo – Ba Thê, Louis Malleret cùng với các cộng sự của mình được ông George Coedès, lúc đó làm giám đốc Học viện Viễn đông bác cổ trao cho nhiệm vụ tiến hành khai quật khảo cổ ở di chỉ Óc Eo. Ông Louis Malleret đã viết: “…Chiến dịch phát quật đi từ ngày 10 tháng 2 đến 19 tháng 4 năm 1944. Chúng tôi chọn thời kỳ này, vì có dịp tết, năm mới của Việt Nam chấm dứt một vụ ở đồng áng, vì đi trước lúc đất rắn chắc sau khi nước đã rút. Kể ra ở miền Tây ngập lụt, thời gian ở Nam Bộ thuận lợi cho các cuộc phát quật khảo cổ cũng tương đối ngắn. Cho mãi tới đầu tháng 2, và có khi muộn hơn, có lắm nơi, nhất là đất trũng, vẫn là đầm lầy. Đến tháng 4, nắng dữ làm rắn đất và kìm hãm công tác. Bắt đầu tháng 6, mưa lớn sũng đất và làm ngập công trường. Bốn mùa, nước ngập ở mức nông cho nên công tác bị ngăn trở nhiều”[1].
Địa điểm khai quật đầu tiên là ở gò Óc Eo, sau đó là các công trình kiến trúc đền thờ được xây dựng bằng gạch – đá ở Gò Cây Thị, Giồng Cát, Gò Ông Phi…và một số địa điểm trên sườn núi Ba Thê.
Tại di tích Óc Eo, người ta đã phát hiện khối lượng di vật rất lớn, trong đó 1.619 hiện vật gồm các chất liệu vàng, đá quý, đồng, thiếc, chì, bạc, sắt, đất nung, gỗ và hàng chục ngàn hạt chuỗi bằng thủy tinh; những hiện vật này được đem về trưng bày và lưu giữ tại Bảo tàng Blanchard de la Brosse (nay là Bảo tàng Lịch sử Thành phố Hồ Chí Minh).
![]() |
Ảnh: Louis Malleret và các cộng sự
(Nguồn: EFEO)
Kể từ năm 1944, bắt đầu cuộc khai quật đầu tiên di tích Óc Eo và thông cáo báo chí đầu tiên về kết quả cuộc khai quật đó (7-1944) đến năm 1959 – 1963, trải qua gần 20 năm, Louis Malleret đã lần lượt đưa ra nhiều kiến giải, nhận định và không ngừng hiệu chỉnh, bổ sung, hoàn thiện về di tích văn hóa Óc Eo thể hiện qua bộ sách công trình nghiên cứu trọng yếu Khảo cổ học đồng bằng sông Mê Kông gồm 04 tập. Khi nói về công trình nghiên cứu của Louis Malleret, nhà khoa học lớn của Viện Viễn Đông Bác cổ là Giáo sư P.Y. Manguin cho rằng: “Công trình của Louis Malleret với nhan đề Khảo cổ học đồng bằng sông Mekong, gồm 04 tập, ấn hành từ 1959 đến 1963, đến nay vẫn là một điểm khởi đầu bắt buộc cho tất cả mọi nghiên cứu khảo cổ về các tỉnh miền Nam của Việt Nam”[2].
Đô thị cổ Óc Eo được Louis Malleret xác định là một vòng thành được thiết kế hình chữ nhật rộng 1.500 mét, dài 3.000 mét với diện tích rộng 450 hecta. Trong vòng thành đã ghi nhận được vết tích của những đường lộ, đường nước, nhà ở có bố cục hình chữ nhật, hình vuông. Chạy ở chính giữa cắt thành phố ra làm 02 phần là một con kênh lớn (được ông gọi là kênh K16) chạy theo hướng Đông Bắc – Tây Nam nối với di tích Nền Chùa (Kiên Giang) ra tới vùng biển Tây Nam. Ở điểm đầu phía Đông Bắc của thành phố, cũng có một con kênh lớn (được gọi là kênh K4) nối đầu với kênh K16 chạy lên phía Bắc đi qua vùng phía Đông của Bảy Núi (An Giang ngày nay) nối liền với một thành phổ cổ khác của Phù Nam thời bấy giờ là Ăngkor Borei. Từ những kết quả nghiên cứu này, Louis Malleret đã nhận định khu di tích khảo cổ Óc Eo – Ba Thê là một đô thị cổ - một thành phố cảng lớn đóng vai trò then chốt trên con đường thương mại quốc tế thời cổ đại, là điểm kết nối các nền văn minh phương Đông và phương Tây với nhau.

Ảnh: Sơ đồ cảng thị Óc Eo
(Bản vẽ của Louis Malleret năm 1959)
Trong khi đó, núi Ba Thê là ngọn núi lớn nổi bật giữa đồng bằng, gắn với nhiều dấu tích cư trú và tôn giáo cổ xưa. Ba Thê là dãy núi có ba đỉnh, trong đó đỉnh phía bắc cao 221 mét, đỉnh phía nam cao 161 mét và đỉnh cao nhất ở giữa 226 mét. Trên địa bàn này, kể từ cuối thế kỷ XIX đến nay, có hàng chục địa điểm khảo cổ học đã được phát hiện. Diện phân bố của chúng dàn trải ra khá rộng trên sườn đến thềm đất ven rìa phía đông của núi Ba Thê – Núi Nhỏ và có mặt tại địa điểm Giồng Xoài, cách chân núi Ba Thê khoảng 1,5km về phía nam. Ngoài ra, còn có di tích nằm ven rìa phía tây bắc, phía nam và cả trên đỉnh cao 221 mét núi Ba thê. Nhìn chung cả bốn mặt đông, tây, nam, bắc cũng như từ đỉnh xuống chân, đến tận thềm đất cao ven rìa chân núi đều có di tích văn hóa cổ.
Điểm đặc biệt của khu di tích khảo cổ Óc Eo – Ba Thê là sự xuất hiện của hệ thống cư trú và giao thông thủy quy mô lớn. Qua nghiên cứu, các nhà khoa học xác định nơi đây có hệ thống kênh đào liên kết nhiều khu vực; khu dân cư và trung tâm thủ công nghiệp; kiến trúc tôn giáo và nghi lễ; hoạt động trao đổi hàng hóa quốc tế. Khu di tích Óc Eo – Ba Thê được giới khảo cổ học coi là một địa điểm quan trọng hàng đầu trong việc nghiên cứu văn hóa Óc Eo ở Nam Bộ. Các phát hiện khảo cổ học tại đây cũng giúp giới nghiên cứu nhận diện rõ hơn về vương quốc Phù Nam – một quốc gia cổ từng phát triển mạnh ở vùng Nam Bộ và hạ lưu sông Mê Kông.
Với những giá trị nổi bật về lịch sử, văn hóa và khảo cổ học, khu di tích khảo cổ Óc Eo – Ba Thê đã được Thủ tướng Chính phủ xếp hạng di tích quốc gia đặc biệt vào năm 2012. Địa điểm này cũng được lựa chọn để lập hồ sơ đề cử UNESO công nhận là di sản văn hóa thế giới vì nơi đây đã trở thành trung tâm tôn giáo, đô thị tiền cảng phát triển thể hiện qua các dấu tích dân cư sinh sống, sản xuất thủ công, chế tác thủy tinh và đồ kim loại, đến thời kỳ phát triển cực thịnh nhất trở thành cửa ngỏ thương mại hàng hải nổi tiếng, nối Óc Eo với mạng lưới thương mại Quốc tế.
Hiện nay, hồ sơ đề cử khu di tích khảo cổ Óc Eo trình UNESCO công nhận là Di sản thế giới đang tích cực được xây dựng với sự tham gia của các nhà khoa học, cơ quan chuyên môn, cơ quan quản lý và tổ chức quốc tế. Hành trình ấy không chỉ nhằm bảo tồn những dấu tích khảo cổ quý giá, mà còn góp phần giới thiệu với thế giới về một nền văn minh cổ từng phát triển rực rỡ trên vùng đất Nam Bộ. Và khu vực này không chỉ là nơi nghiên cứu khảo cổ học, mà còn là không gian giáo dục lịch sử, văn hóa và truyền thống cho cộng đồng.
TÀI LIỆU THAM KHẢO
Đào Linh Côn, Lê Xuân Diệm (2010), Giá trị văn hóa Óc Eo ở miền Tây Nam Bộ (qua tư liệu hiện có), Đề tài khoa học cấp bộ.
Louis Malleret, L’Archélogie du Delta du Mékong (Khảo cổ học đồng bằng sông Cửu Long, tập 1), bản dịch của Viện Bảo tàng Lịch sử Việt Nam 1969, tr.270.
Louis Malleret 2021, Khảo cổ học đồng bằng sông Mê Kông, tập II, Văn minh vật chất Óc Eo, Nxb Tổng hợp thành phố Hồ Chí Minh
Viện Hàn lâm Khoa học Xã hội Việt Nam – Ủy ban nhân dân tỉnh An Giang (2023), Kỷ yếu hội thảo khoa học quốc tế “Văn hóa Óc Eo trong bối cảnh văn hóa châu Á”, An Giang.
Ban Quản lý Di tích Văn hóa Óc Eo tỉnh An Giang
[1] Louis Malleret, L’Archélogie du Delta du Mékong (Khảo cổ học đồng bằng sông Cửu Long, tập 1), bản dịch của Viện Bảo tàng Lịch sử Việt Nam 1969, tr.270.
[2] Louis Malleret 2021, Khảo cổ học đồng bằng sông Mê Kông, tập II, Văn minh vật chất Óc Eo, Nxb Tổng hợp thành phố Hồ Chí Minh
